Saturday, July 31, 2010

Chú trọng kiểm toán ngoài chứng từ: Phương pháp quan trọng tạo ra bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính

Monday, December 7, 2009, 15:40
This news item was posted in Kiểm toán, tin bài category and has 0 Comments so far.

ngoài chứng từ là một công cụ tối ưu để tạo ra bằng chứng trong quá trình , khắc phục những nhược điểm của chứng từ trong trường hợp đơn vị được lập giả để hợp thức số liệu. ngoài chứng từ được viên (KTV) thực hiện trên cơ sở tuân thủ quá trình chung của ngoài chứng từ theo chuẩn mực , và chuẩn mực , thế giới được thừa nhận sẽ góp phần nâng cao chất lượng của

Kiểm kê

Kiểm kê là kiểm tra tại chỗ các loại tài sản để chứng minh tính hiện hữu của tài sản đó trong . Kiểm kê thường được thực hiện vào thời điểm khóa sổ để xem đơn vị được có tuân thủ các quy định về kiểm kê tài sản cố định, công cụ dụng cụ (TSCĐ, CCDC) hay không. Công việc kiểm kê thường được tiến hành ở một số khoản mục chủ yếu sau:

Khoản mục vốn bằng tiền

Chuẩn bị kiểm kê
- Niêm phong két: KTV tiến hành niêm phong két để bảo đảm tính trung thực cao của thủ quỹ cũng như các bộ phận liên quan. Việc thực hiện niêm phong két phải đảm bảo có ít nhất 3 người tham gia (thủ quỹ, trưởng, nhân viên kiểm kê)

-Yêu cầu lập biên bản: Đây là công việc cần thiết để củng cố tính pháp lý của công việc kiểm kê và cũng là để cho công việc được dễ dàng trong việc quy trách nhiệm sau này:
Với thủ quỹ: Cam đoan tiền mặt có tại két là của đơn vị; cam kết về biện pháp xử lý trong trường hợp thủ quỹ vi phạm để quy kết trách nhiệm và nó sẽ giúp viên trong việc xử lý các sai phạm do lỗi cố ý hoặc không cố ý của thủ quỹ.
Với quỹ: Cam đoan thực hiện việc ghi chép đầy đủ và có đủ chứng từ hợp lý, hợp pháp nhằm chứng minh tính trung thực hợp lý và tránh tình trạng khai khống của vì một mục đích nào đó.

- Khóa sổ : Thường được thực hiện bởi một .

Sau đó, KTV tiến hành chuẩn bị về hiện vật: sổ ghi chép trong  quá trình kiểm kê, dụng cụ kiểm kê: máy đếm tiền, máy soi tiền, mẫu biểu kiểm kê… và phân công nhân lực cho quá trình kiểm kê.

Thực hành kiểm kê
- Mở niêm phong két: Công việc này thường được thực hiện bởi một nhân viên kiêm kê có sự chứng kiến của thủ qũy, trưởng hoặc giám đốc viên tiến hành mở niêm phong két và thực hiện công việc kiểm kê là phân loại tiền và đếm tiền.

- Phân loại, đánh giá các loại tiền: Việc phân loại và đánh giá các loại tiền: Tiền mặt, trái phiếu chính phủ… được thực hiện ngay tại nơi kiểm kê dưới sự chứng kiến của trưởng (hoặc giám đốc), thủ quỹ và viên.

- Đếm tiền: TIền được đếm theo từng loại và ghi chép theo từng loại riêng.

Kết thúc kiểm kê
KTV ra biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt tồn kho thực tế đến thời điểm cụ thể theo:  Phiếu thu (đến số…, ngày…); Phiếu chi (đến số…, ngày…); tồn tiền mặt theo các sổ sách : …VND; tồn tiền mặt theo thực tế (kiểm kê theo từng loại tờ tiền: 500.000,100.000,…, số tờ, thành tiền…), chênh lệch thực tế so với  sổ sách, lý do…

Kiểm kê khoản mục TSCĐ

Chuẩn bị kiểm kê
- Về phương tiện, nhân sự: Việc phân bổ về nhân sự phụ thuộc chặt chẽ vào mô hình quản lý tài sản của (nếu quản lý tài sản một cách tập trung thì việc phân bổ nhân viên sẽ ít hơn và cũng tập trung hơn còn nếu quản lý tài sản một cách phân tán thì việc phân công nhân sự cũng cần sử dụng nhiều nhân viên kiểm kê hơn).
- Về các điều kiện khác:
Xem xét việc tách biệt giữa việc quản lý tài sản và việc ghi chép tài sản trong vì yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến tính trung thực của ghi sổ cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của bộ phận quản lý tài sản.

Chú ý đến việc có quy định rõ ràng về thẩm quyền của các cấp quản lý với việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế liên quan tới mua bán, thanh lý, điều chuyển … các tài sản của ? Việc có quy định rõ thẩm quyền của việc phê chuẩn hay không sẽ tránh được tình trạng người bảo quản tài sản trong doanhnghiệp cũng chính là người sử dụng và là người mua sắm tài sản trong .

Tìm hiểu bảo quản của tài sản trong ất là đối với công cụ dụng cụ vì giá trị của CCDC thường lớn và xem xét đặt ra định mức hao mòn có phù hợp với từng loại tài sản và phù hợp với từng môi trường bảo quản tài sản không.

Thực hiện kiểm kê
- viên lựa chọn phướng thức tiến hành kiểm kê: theo lô, khối hoặc theo vùng, điểm… TSCĐ được phân loại, thống kê, đánh số, dán tem kiêm kê TSCĐ như do viện trợ, biếu, tặng, đều phải được xác định nguyên giá lập hồ sơ quản lý.

- viên lựa chọn ghi sổ và biên bản kiểm kê cho phù hợp vơi điều kiện thực tế, ghi chép đầy đủ trong việc kiểm kê sẽ giảm thiều sai sót trong việc lập

Kết thúc kiểm kê
- viên tiến hành lập bảng kê các loại TSCĐ, CCDC trên cơ sở ghi chép đầy đủ công việc hàng ngày chi tiết theop từng loại hình tài sản riêng biệt để có thể lập được bảng kê một cách chi tiết và chính xác. (Xem bảng cuối trang)

- Biên bảng kiểm kê được lập dưới sự chứng kiến của cả hai phía là đơn vị được và KTNN lưu một bản để làm bằng chứng cho công việc của mình. Yêu cầu chung của biên bản kiểm kê là phải chỉ rõ được số lượng tài sản thực tế có tại thời điểm kiểm kê, so với sổ sách đã ghi chép thì thực tế chênh lệch là bao nhiêu và lý do của sự chênh lệch đó để khi đối chiếu với với chứng từ viên có thể tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục sự chênh lệch (nếu có)

Khoản mục liên quan tới hàng tồn kho:

Hàng tồn kho có giá trị không lớn nhưng có số lượng các nghiệp vụ phát sinh lớn, lặp đi lặp lại nhiều lần và được quản lý cả về giá trị và hiện vật. Công việc kiểm kê hàng tồn kho là một trong những bước để đánh giá sự tồn tại và hiện hữu của hàng tồn kho trong đơn vị.

Chuẩn bị kiểm kê:

Về cơ sở vật chất kỹ thuật: có thể phải sử dụng máy móc thiết bị  trong việc kiểm kê để đảm bảo độ chính xác cao, tránh nhầm lẫn…Về con người: Ngoài việc phân bổ nhân viên kiểm kê cho phù hợp, đôi khi viên phải sử dụng ý kiến của các chuyên gia để kiểm kê tài sản vì có những loại hàng tồn kho không thể cân, đo, đong, đếm được như khi kiểm kê một số loại hóa chất…

Thực hiện kiểm kê:
Khi tiến hành kiểm kê, viên phải lựa chọn tính trọng yếu để kiểm kê hàng nào trước, loại hàng nào sau để thuận tiện cho quá trình .

Đối với những đơn vị được viên có chứng kiến kiểm kê tại thời điểm khóa sổ thì viên thực hiện xác nhận những tài sản mà đơn vị nhận giữ hộ cho các đơn vị khacsm các TSCĐ chưa sử dụng, hư hỏng, chờ thanh lý…

Đối với những đơn vị được mà KTV không trực tiếp chứng kiến kiểm kê tại thời điểm khóa sổ thì viên phỏng vấn khách hàng về các thủ tục kiểm kê mà họ đã thực hiện để đánh giá mức độ tin cậy của tài liệu kiểm kê đã nhận được.

Kết thúc kiểm kê:

KTV đưa ra biên bản kiểm kê hàng tồn kho tại đơn vị: kiểm kê, nội dung kiểm kê; số lượng hàng tồn kho thực tế tại thời điểm kiểm kê (tên hàng, đơn vị tính, số lượng, tổng số); số lượng hàng hóa tồn kho theo sổ sách ; chênh lệch; kết luận.

Thực nghiệm

Thực nghiệm là diễn lại hoặc nghiên cứu, phân tích từng yếu tố cấu thành của một tài sản, một quá trình đã có, đã diễn ra và cần xác minh lại để kiểm tra độ chính xác của các đã được   ghi chép từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn tạo ra sản phẩm mà đã ghi chép trong sổ sách .

Do đặc thù riêng của nền kinh tế thực nghiệm thường ít được tiến hành, nếu được tiến hành thì chỉ có thể tiến hành trong một số ngành mang tính chất đặc thù riêng và trong những trường hợp đặc biệt. Trong từng trường hợp đặc biệt đó, tùy từng điều kiện cụ thể mà thực nghiệm là khác nhau không có tính bắt buộc chung

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Related posts

You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply