Saturday, July 31, 2010

Các mô hình kế toán cơ bản

Monday, December 21, 2009, 14:29
This news item was posted in Kế toán- Tài chính, tin bài category and has 0 Comments so far.

Nghiên cứu quá trình phát triển ở các nước trên thế giới các đã tổng kết và đưa ra 6 loại hình cơ bản đó là:
1. quỹ (tiền mặt)
2. tĩnh (tài sản)
3. động ( kinh tế)
4. thuê
5. vĩ mô (thống kê)
6. hiện tại hóa
- Mô hình quỹ, hay còn gọi là mô hình tiền mặt: Với loại này, việc ghi chép không căn cứ vào sự phát sinh của các nghiệp vụ kinh tế mà căn cứ vào sự phát sinh của các luông tiền đã thực chi ra và thu vào. chỉ được ghi nhận khi đơn vị thực sự thu được tiền và cũng như vậy chi phí được ghi chép khi đơn vị thực sự chi tiền ra. Các kết quả không được đánh giá và xác định định kỳ mà được xác định theo tuổi thọ của từng khoản đầu tư. Các không được lập thường xuyên qua mỗi kỳ mà được lập sau khi kết thúc mỗi khoản đầu tư.
- Mô hình tĩnh (hay tài sản): đặc điểm cơ bản của loại mô hình này là định kỳ phải kiểm kê, đánh giá lại tài sản theo giá . Bảng cân đối chỉ phản ánh những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của . Không phản ánh những tài sản đi thuê và những tài sản vô hình. Giá trị của tài sản được phản ánh theo giá . Khấu hao tài sản không theo mà tùy thuộc kết quả đánh giá tài sản qua các kỳ. Nguồn vốn được hạch toán là nguồn vốn đã đăng ký. Mô hình này chủ yếu phục vụ cho việc xem xét tại một thời điểm nào đó việc thực hiện các tài sản có cho phép trả nợ hay không. Nó không chú ý đến việc cung cấp thông tin để đánh giá hiệu quả kinh tế của .
- Mô hình động (kinh tế): Ngược với mô hình tĩnh, mô hình động được thiết kế chủ yếu phục vụ đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động diễn ra trong qua các thời kỳ . Các tài sản trong bảng cân đối bao gồm cả tài sản thuộc quyền sở hữu của và tài sản đi thuê, gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Nguyên tắc đánh giá tài sản theo giá vốn. Khấu hao được thực hiện một cách có theo mức độ sử dụng tài sản. Nguồn vốn là nguồn vốn đã huy động. Kết quả được xác định thường xuyên qua các kỳ . Các được lập một cách kịp thời. động phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả kih tế của các có thể trở thành bí mật và phi pháp quy, không liên quan đến chính thống.
- Mô hình thuế: Trong mô hình này, nội dung, nguyên tắc và chịu sự chi phối của các quy định về thuế và chủ yếu phục vụ cho mục đích tính thuế và thu thuế ở các .
- Mô hình kinh tế vĩ mô: Mô hình này nhằm phục vụ cho quốc gia, chú trọng đến giá trị tổng sản phẩm đã bán, sản phẩm tồn kho, sản phẩm được vốn hóa, loại trừ chi phí tiêu dùng trung gian (chi phí mua sắm, biến động tồn kho) và các chi phí mua ngoài, xác định được giá trị gia tăng. Từ kết quả này trừ thu nhập trừ các yếu tố khác ngoài chủ sở hữu (chi phí nhân công, thuế, chi phí khấu hao, chi phí dự phòng, chi phí khác cho hoạt động ) sẽ xác định được lãi ròng.
- Mô hình hiện tại hóa: để tồn tại và phát triển, thường xuyên phải thực hiện các khoản chi chi ra và đồng thời có các khoản thu vào theo thời gian. Để đánh giá và so sánh giá trị của ở những thời điểm khác nhau phải dựa vào mô hình hiện tại hóa. Mô hình này dựa vào tỷ lệ chiết khấu thích hợp để quy đổi tất cả các luồng tiền về thời điểm hiện tại, xác định được giá trị thuần của các luồng tiền. Trên cơ sở đó cho phép so sánh giá trị của các ở các thời điểm khác nhau. Loại này rất có tác dụng trong việc đánh giá đầu tư dài hạn.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Related posts

You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply