Friday, March 12, 2010

Phần mềm kế toán cho DN Xây lắp – những điểm cần chú ý

Monday, February 8, 2010, 12:33
This news item was posted in Kế toán- Tài chính, tin bài category and has 0 Comments so far.

Trong các ngành vật chất của xã hội, ngành chiếm một tỷ trọng lớn với nhiều điểm khác biệt về cách thức cũng như phương pháp quản lý. Để phản ánh trung thực, kịp thời và chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, khi phần mềm chuyên ngành cần lưu ý những đặc điểm khác biệt của ngành so với các ngành khác.

Quy trình

Thứ nhất, về hàng tồn kho

Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động do xây lắp mua ngoài hay tự hoặc nhận của bên giao thầu công trình dùng cho mục đích xây lắp, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ.

Trong ngành nguyên vật liệu thường được xuất dùng trực tiếp cho từng công trình mà không qua nhập kho. Do vậy, nhu cầu đặt ra đối với là theo dõi được tình hình nhập xuất tồn của từng loại vật tư theo từng công trình. Ngoài ra, theo của Bộ , việc hạch toán tổng hợp hàng tồn kho trong chỉ được áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên mà không áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ.

Thứ hai, về chi phí và giá thành

Ngoài các tài khoản dùng để hạch toán chi phí như tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, tài khoản 622 – Chi phí nhân công trực tiếp, tài khoản 627 – Chi phí chung, trong còn sử dụng thêm tài khoản 623 – Chi phí sử dụng máy thi công. Đây là tài khoản dùng để theo dõi, hạch toán các khoản chi phí phát sinh như: chi phí nguyên vật liệu cho máy hoạt động, tiền công nhân công lái máy, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy…

Khi công trình được bàn giao, đưa vào sử dụng, có thể phát sinh các chi phí liên quan đến sửa chữa, bảo hành công trình. Theo thông tư số 21/2006/TT-BTC, để trích trước các khoản dự phòng bảo hành công trình, sử dụng tài khoản 352 – Dự phòng phải trả và hạch toán chi phí trích trước vào tài khoản 627 – Chi phí chung.

Một điểm khác biệt về hạch toán chi phí trong đó là: các khoản trích theo lương như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân công trực tiếp và nhân công lái máy không được tính tương ứng vào tài khoản 622, 623 mà được tính vào tài khoản 627- chi phí chung.

Các chi phí phát sinh trong rất đa dạng và phức tạp. Trong đó có những khoản chi phí chung cần phân bổ đến từng công trình, từng hạng mục cụ thể, cần có cách thức phân bổ phù hợp để phục vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo công trình.

Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong . Chi phí này phát sinh khi thuê ngoài thi công một phần công trình. thường hạch toán khoản chi phí này như một dịch vụ mua ngoài và ghi nhận trực tiếp vào tài khoản 154 từng công trình.

Việc xác định giá vốn trong thường kết chuyển trực tiếp từ tài khoản 154 sang tài khoản 632 tương ứng với doanh thu ghi nhận từng lần nghiệm thu khối lượng hoàn thành mà không nhập kho thành phẩm vào tài khoản 155.

Thứ ba, về TSCĐ

Trong xây lắp, TSCĐ thường có giá trị lớn, việc quản lý khó khăn do được sử dụng phân tán trên nhiều địa bàn khác nhau. Phương pháp khấu hao TSCĐ mà các thường sử dụng là phương pháp khấu hao theo đường thẳng. Tuy nhiên do đặc thù ngành , máy móc sử dụng không liên tục, phụ thuộc vào đặc điểm thi công nên phương pháp khấu hao theo sản lượng được sử dụng rộng rãi.

Cuối cùng, về công tác quản trị trong xây lắp.

Nếu như có mục đích là cung cấp phục vụ cho việc lập các và phải tôn trọng những nguyên tắc được thừa nhận và sử dụng phổ biến, thì quản trị nhấn mạnh việc cung cấp cho việc điều hành hoạt động của người quản lý và không có tính bắt buộc.

Quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm là nội dung cơ bản của quản trị. Đối với , với đặc thù sản phẩm mang tính đơn chiếc, giá trị lớn và thời gian thi công dài nên đặt ra yêu cầu trước khi thực hiện thi công, xây lắp cần phải có dự toán. Dự toán biểu thị giá công trình trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được xác định trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư công trình. Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công việc thường xuyên và cần thiết của để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chi phí.

Do đặc điểm thời gian thi công kéo dài nên việc theo dõi chi phí và giá thành sản phẩm ở không chỉ dừng lại ở việc tập hợp và theo dõi chi phí phát sinh trong năm mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá thành và doanh thu lũy kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công cho đến thời điểm hiện tại.

Một nhu cầu quản trị của công nợ ở các là theo dõi công nợ theo công trình. Công nợ cần được theo dõi chéo: công nợ chi tiết của các khách hàng và nhà cung cấp theo từng công trình và công nợ chi tiết của các công trình với từng khách hàng và nhà cung cấp.

thực hiện thi công nhiều công trình ở nhiều địa điểm khác nhau thường có những đơn vị hạch toán phụ thuộc như xí nghiệp, đội thi công… không có con dấu riêng, không có tư cách pháp nhân, được giao thực hiện một phần hoặc toàn bộ công trình của nhận từ chủ đầu tư. Yêu cầu công tác trong trường hợp này là cung cấp các quản trị về tình hình tiền chủ đầu tư chuyển về, tiền các đơn vị phụ thuộc được tạm ứng, tiền lãi tính cho các đơn vị phụ thuộc này. Tùy theo mà số tiền giữ lại, lãi suất và cách tính lãi cho đơn vị phụ thuộc sẽ khác nhau.

Để nâng cao tính hiệu quả của và cung cấp quản trị toàn diện hơn, Phòng Nghiên cứu và Phát triển Sản phẩm Chuyên ngành của FAST vừa cho ra mắt sản phẩm mới Fast Accounting for Construction 10.0 với các tính năng mạnhi như: Theo dõi hàng tồn kho theo công trình; quản trị chi phí thực tế so với dự toán, theo dõi doanh thu, chi phí, giá thành lũy kế qua các năm; tính lãi đội thi công… Đây sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác trong các .

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Related posts

You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply